Vì dụ các khía cạnh của trách nhiệm xã hội

MỤC LỤC
I.
II.

III.
IV.

Mở đầu
Nội dung
1. Lý luận chung
1.
Khái niệm
2.
Nội dung cơ bản của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
a) Khía cạnh kinh tế
b) Khía cạnh pháp lí
c) Khía cạnh đạo đức
d) Khía cạnh nhân văn
2. Lợi ích thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
3. Thực trạng thực hiện trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp.
4. Những thách thức, khó khăn trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội
của các doanh nghiệp.
5. Một số giải pháp và kiến nghị thực hiện trách nhiệm xã hội ở các
doanh nghiệp.
1.
Giải pháp
2.
Kiến nghị
Kết luận
Tài liệu tham khảo

I.

MỞ ĐẦU

Ở Việt Nam, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp vẫn là vấn đề còn khá
mới mẻ. Song, trong những năm gần đây, trước thảm họa về môi trường và những
hậu quả tiêu cực về xã hội do các doanh nghiệp gây ra, vấn đề trách nhiệm xã hội
được đặt ra một cách cấp bách. Do đó tôi quyết định chọn đề tài  Vấn đề trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp để nghiên cứu.

I.

NỘI DUNG

1. Lý luận chung
1.1

Khái niệm trách nhiệm xã hội doanh nghiệp :

Đối với Việt Nam, trên thực tế người ta rất dễ hiểu lầm khái niệm trách
nhiệm xã hội như là một hoạt động tham gia giải quyết các vấn đề xã hội mang
tính nhân đạo, từ thiện. Nhưng thực chất, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp
được hiểu là cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho việc phát triển kinh tế bền
vững, thông qua việc tuân thủ chuẩn mực về bảo vệ môi trường, bình đẳng về giới,
an toàn lao động, quyền lợi lao động, trả lương công bằng, đào tạo và phát triển
nhân viên, phát triển cộng đồng theo cách có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như
phát triển chung của xã hội.
Các doanh nghiệp có thể thực hiện trách nhiệm xã hội của mình bằng cách đạt một
chứng chỉ quốc tế hoặc áp dụng những bộ quy tắc ứng xử . Trách nhiệm xã hội là
nghĩa vụ mà một doanh nghiệp phải thực hiện đối với xã hội. Có trách nhiệm với
xã hội là tăng đến mức tối đa các tác dụng tích cực và giảm tới tối thiểu các hậu
quả tiêu cực đối với xã hội, có lợi cho cả doanh nghiệp cũng như phát triển chung
của xã hội.
1.2 Nội dung cơ bản của trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
Trách nhiệm xã hội bao gồm bốn khía cạnh: kinh tế, pháp lí, đạo đức và nhân
văn.
a) Khía cạnh kinh tế:
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là phải sản xuất
hàng hóa, dịch vụ mà xã hội cần và muốn với một mức giá có thể duy trì doanh
nghiệp ấy và làm thỏa mãn nghĩa vụ của các doanh nghiệp với các nhà đầu tư, thúc

đẩy tiến bộ khoa học- công nghệ, phát triển sản phẩm,. Trong khi thực hiện các
công việc này, các doanh nghiệp đã góp phần làm tăng phúc lợi xã hội, đảm bảo sự
tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
- Đối với người lao động, phải đảm bảo chất lượng cuộc sống và cải thiện
sức khỏe cho người lao động và tăng khả năng cạnh tranh quốc gia.
- Đối với người tiêu dùng, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp là cung
cáp hàng hóa dịch vụ. Ngoài ra, nó còn liên quan đến vấn đề chất lượng,
an toàn sản phẩm, định giá, thông tin về sản phẩm, phân phối bán hàng
và cạnh tranh.
- Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp, trách nhiệm kinh tế của doanh nghiệp
là bảo tồn và phát triển các giá trị tài sản được ủy thác với những điều
kiện ràng buộc chính thức.
- Đối với các bên liên đới khác, nghĩa vụ kinh tế của các doanh nghiệp là
mang lại lợi ích tối đa và công bằng cho họ. Nghĩa vụ này đươc thực
hiện bằng việc cung cấp trực tiếp những lợi ích đó qua việc cung cấp
hàng hóa, việc làm, giá cả, chất lượng, lợi nhuận đầu tư,
Khía cạnh kinh tế trong trách nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là cơ sở cho
cho các hoạt động của các doanh nghiệp và nó được thể chế hóa bằng các nghĩa vụ
pháp lí.

b) Khía cạnh pháp lí
Đối với khía cạnh pháp lí trong trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là doanh
nghiệp phải thực hiện đầy đủ những quy định về pháp lí chính thức đối với các bên
hữu quan. Những điều luật như thế này, sẽ điều tiết được cạnh tranh, bảo vệ khách
hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự công bằng và an toàn, cung cấp những sáng
kiến chống lại những hành vi sai trái.
Các nghĩa vụ pháp lí được thể hiện qua luật dân sự và hình sự. Bao gồm năm
khía cạnh: điều tiết cạnh tranh, bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, an toàn
và bình đẳng, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn các hành vi sai trái. Các tổ
chức không thể tồn tại lâu được nếu không thực hiên trách nhiệm pháp lí của mình.

c) Khía cạnh đạo đức
Đối với khía cạnh đạo đức trong trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp là
những hành vi hoạt động mà xã hội mong đợi nhưng không được qui định trong hệ
thống pháp luật, không được thể chế hóa thành luật.
Trong điều kiện của kinh tế thị trường, những doanh nghiệp trả lương thỏa đáng
và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, có chế độ bảo hiểm y tế và môi
trường làm việc sạch sẽ có khả năng thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
Nguyên tắc và giá trị đạo đức trở thành cây kim chỉ nam cho mọi hoat động của
công ty và với các bên hữu quan.

d) Khía cạnh nhân văn
Đối với khía cạnh nhân văn, đó là những hành vi và hoạt động thể hiên những
mong muốn đóng góp và hiến dâng cho cộng đồng, xã hội.
Những đóng góp trên bốn phương diện: nâng cao chất lượng cuộc sống, san sẽ
bớt gánh nặng cho chính phủ, nâng cao năng lực lãnh đạo cho nhân viên và phát
triển nhân cách đạo đức của người lao động. Đó là thứ trách nhiệm được điều
chỉnh bởi lương tâm. Bốn thành tố của trách nhiệm xã hội: chấp nhận, lưu tâm, ra
quyết định và thể hiện lòng bác ái.
Thật vậy, vai trò của trách nhiệm xã hội đã trở thành một trong những yêu cầu
không thể thiếu, là điều kiện để hội nhập quốc tế và mang lại nhiều hiệu quả thiết
thực trong sản xuất kinh doanh. Đồng thời bên cạnh đó, cần phê phán những doanh
nghiệp đã không thực hiện một cách nghiêm túc trách nhiệm xã hội của mình. Điều
đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo tai chính, không đảm
bảo an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất lượng, cố ý làm ô nhiễm
môi trường. Các cơ quan chức năng, báo chí cần góp tiếng nói của mình để tạo
bộ mặt mới trong vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

2. Lợi ích từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:

Các doanh nghiệp việt nam xem trách nhiệm xã hội ở Việt Nam như là một hoạt
động từ thiện, một gánh nặng tốn kém, chứ không phải trách nhiệm của doanh
nghiệp. Các doanh nghiệp việt nam không nhận thức được rằng việc thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ mang lại rất nhiều kết quả. Doanh nghiệp
thực hiện tốt trách nhiệm xã hội thì lợi ích của họ không những giảm đi mà còn
phát triển thêm; Những lợi ích mà doanh nghiệp thu được khi thực hiện trách
nhiệm xã hội bao gồm: Giảm chi phí, tăng doanh thu, tăng giá trị thương hiệu,
giảm tỉ lệ nhân viên thôi việc, tăng năng suất lao động và thêm cơ hội tiếp cận thị
trường mới.
Chúng ta có thể dẫn ra một số ví dụ sau:
1. Thực hiện trách nhiệm xã hội góp phần giảm chi phí, tăng năng suất, một
doanh nghiệp có thể tiết kiệm được chi phí sản xuất nhờ đầu tư, lắp đặt các thiết bị
mới. Chẳng hạn, một doanh nghiệp bao bì mới ở Balan đã tiết kiệm được 12 triệu
USD trong vòng 5 năm nhờ lắp đặt thiết bị mới, làm giảm 70% lượng nước sử
dụng, 70% lượng nước thải và 87% chất thải khí.
2. Về việc góp phần tăng doanh thu thì điển hình như công ty Hindustan lever,
một chi nhánh của tập đoàn Unilever tại Ấn Độ vào đầu những năm 70 công ty chỉ
hoạt động được với 50% công suất do thiếu nguồn cung cấp sữa bò từ địa phương
và do vậy mà công ty đã bị lỗ trầm trọng; để giải quyết vấn đề này công ty đã thiết
lập 1 chương trình tổng thể giúp nông dân tăng sản lượng sữa bò. Chương trình
này gồm đào tạo nông dân cách chăn nuôi, cải thiện cơ sở hạ tầng cơ bản và lập
một Uỷ ban điều phối những nhà cung cấp địa phương do đó số lượng hàng cung
cấp sữa bò đã tăng từ 6 tới hơn 400.giúp cho công ty hoạt đọng hết công suất và
trở thành những chi nhánh kinh doanh lãi nhất tập đoàn (doanhnhan.com.vn).
3. Nâng cao giá trị thương hiệu và uy tính công ty. Chẳng hạn, hãng điện tử
Best Buy đã có chương trình tái chế sản phẩm; Hay cafe nổi tiếng Starbucks đã và
đang bắt tay vào các hoạt động cộng đồng; Hãng nước khoán nổi tiếng của nước
Pháp Evian phân phối sản phẩm của mình trong những chai nước thân thiện với
môi trường.
4. Thu hút nguồn lao động giỏi, nguồn lao động giỏi có năng lực là yếu tố
quyết định năng suất và chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp. Việc thu hút và
giữ chân được nhân viên có chuyên môn tốt là thách thức lớn đối với các doanh

nghiệp. Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường những doanh nghiệp trẻ lương
thoả đáng và công bằng, tạo cho nhân viên cơ hội đào tạo, có chế độ bảo hiểm y tế
và môi trường làm việc sạch sẽ có khả năng giữ chân và thu hút nguồn lao động
có chất lượng cao.
Tất cả các điều kiện trên là cơ sở để luận chứng cho sự cần thiết phải thực hiện
trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp nói chung đồng thời là kinh nghiệm bổ ích,
có giá trị tham khảo cho các doanh nghiệp.

3. Thực trạng về việc thực hiện trách nhiệm xã hội ở Việt Nam.
Trên thực tế, ở Việt Nam, vấn đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mặc dù
là vấn đề mới mẻ, nhưng bước đầu được một số bộ, ngành quan tâm, chú ý.
Bằng chứng là, từ năm 2005, Phòng Thương Mại và Công Nghiệp Việt Nam,
Bộ Lao Động Thương Binh và Xã Hội, Bộ Công Thương cùng các hiệp hội da
giày, dệt may trao giải thưởng Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp hướng tới sự
phát triển bền vững nhằm tôn vinh các doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã
hội của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp lớn ở Việt Nam đã nhận thấy rằng, trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp đã trở thành một trong những yêu cầu không thể thiếu
được đối với doanh nghiệp, bởi lẽ, trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc
tế, nếu doanh nghiệp không tuân thủ trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ
không thể tiếp cận được với thị trường thế giới. Nhiều doanh nghiệp khi thực hiện
trách nhiệm xã hội đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong sản xuất kinh
doanh.
Trong những năm gần đây, theo khảo sát do Viện Khoa học Lao động và Xã hội
tiến hành gần đây trên 24 doanh nghiệp thuộc hai ngành dệt may và da giày đã chỉ
ra rằng nhờ thực hiện các chương trình trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp,doanh
thu của các doanh nghiệp này đã tăng 25%,năng suất lao động cũng tăng từ 34,2
lên 35,8 triệu đồng/lao động/năm, tỷ lệ hàng xuất khẩu tăng 94% lên 97%.Và một
số công ty đã đươc trao bằng khen vì có thành tích xuất sắc trong thực thi trách
nhiệm xã hội về đầu tư thời gian và nguồn lực cho các hoạt động dự phòng
HIV/AIDS và hỗ trợ việc làm cho người sống chung với HIV.

Điển hình trong việc chú trọng đến trách nhiệm xã hội chẳng hạn như những
chương trình xã hội 6 triệu ly sữa cho trẻ em ở việt nam và quỹ học bỗng  Đèn
đom đóm của những thương hiệu lớn như Vinamilk, Dutch Lady gây được tiếng
vang và được người tiêu dùng ủng hộ.
Bên cạnh đó, nước ta cũng có một số doanh nghiệp làm từ thiện như: ông Trần
Đặng tổng giám đốc công ty xây dựng Hiệp Hòa tỉnh Phú Yên, hằng năm trao tặng
hàng chục ngôi nhà cho bà con nhà nghèo, năm 2009 ông trao tặng 100 triệu đồng
cùng với số tiền để xây dựng 10 ngôi nhà nghĩa tình cho quỹ vì người nghèo tỉnh
Phú Yên (theo báo thanh niên Việt Nam). Ngoài ra có ông Lâm Tấn Lợi chủ doanh
nghiệp võng xếp Duy Lợi cùng báo thanh thanh niên làm từ thiện (theo tác giả: 1
vé trở lại tuổi thơ, báo thanh niên).
(NLĐ)- Công ty Intel Products VN và Viện Quản trị châu Á (AIM) vừa ký kết
thỏa thuận thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Theo đó, từ ngày 10 đến
22- 8- 2015, Intel sẽ tổ chức giải thưởng Trách nhiệm của doanh nghiệp nhằm
tôn vinh những tổ chức có dự án về trách nhiệm xã hội dựa trên tiêu chí: hỗ trợ
cộng đồng, nâng cao chất lượng giáo dục, bảo vệ môi trường và xóa đói giảm
nghèo...Ngoài ra, Intel và AIM còn tổ chức Diễn đàn châu Á về trách nhiệm xã hội
của doanh nghiệp diễn ra vào ngày 27 và 28-9 tại TPHCM. Tại diễn đàn, Intel sẽ
công bố giải thưởng trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp tham gia giải thưởng
Trách nhiệm của doanh nghiệp.
NLĐ)- Báo cáo về quá trình đánh giá thực hiện Dự án trách nhiệm xã hội
doanh nghiệp (BSCI) VN  Phần Lan 2006-2009 do LĐLĐ TPHCM, Sở LĐ-TBXH, Phòng Thương mại  Công nghiệp VN TPHCM, Tổ chức Apheda tổ chức
ngày 25-8, cho biết sau 4 năm thực hiện đã có 6/16 nhà máy thuộc 13 doanh
nghiệp ở TPHCM, Bình Dương, Đồng Nai, Bình Định, Bến Tre, Kiên Giang đạt
chuẩn BSCI. Một trong những kết quả lớn nhất sau 4 năm thực hiện dự án là điều
kiện làm việc ở các nhà máy được cải thiện rõ rệt với trên 50% công nhân hài lòng;
hệ thống an toàn vệ sinh lao động và các tiện nghi sinh hoạt được quan tâm. Mục
tiêu của dự án là góp phần cải thiện điều kiện làm việc, quan hệ lao động, năng
suất lao động, kết quả sản xuất kinh doanh và chất lượng xã hội của sản phẩm
trong những doanh nghiệp cung ứng sản phẩm của VN. Khi đạt chuẩn BSCI,
doanh nghiệp sẽ có thuận lợi được 500 nhà cung cấp sản phẩm cho thị trường châu
Âu chấp nhận.

Ngoài hiệu quả kinh tế các doanh nghiệp còn có lợi từ việc tạo dựng hình ảnh với
khách hàng, sự gắn bó và hài lòng của người lao động, thu hút lao động có chuyên
môn cao.
Tuy nhiên, bên cạnh đó, phải thừa nhận rằng, trong thời gian qua ở Việt
Nam, nhiều doanh nghiệp đã thực hiện một cách không nghiêm túc trách nhiệm xã
hội của mình. Điều đó thể hiện ở các hành vi gian lận trong kinh doanh, báo cáo
tài chính, không đảm bảo an toàn lao động, sản xuất, kinh doanh hàng kém chất
lượng, cố ý gây ô nhiễm môi trường. Như các vụ sản xuất thực phẩm chứa chất có
hại cho sức khỏe con người, như thực phẩm chứa hàn the,bánh phở chứa phormol,
nước tương chứa 3- MCPD một chất có thể gây ung thư; sữa chứa Melamin một
chất độc hại gây ra sạn thận ở trẻ em, có thể dẫn đến tử vong, nhiều doanh nghiệp
vi phạm các quy định pháp luật về lương bổng, chế độ bảo hiểm, vấn đề an toàn
lao động cũng không còn là hiện tượng hiếm thấy, đã và đang gây bức xúc cho xã
hội.
Theo thống kê mới nhất, trong số hơn 100 khu công nghiệp ở Việt Nam, có
đến 80% đang vi phạm các quy định về môi trường. Một số doanh nghiệp chỉ quan
tâm đến chuyện lợi nhuận mà xao lãng việc xử lý các chất thải mà doanh nghiệp họ
tạo ra. Trong thời gian vừa qua, hàng loạt các trường hợp, nhà doanh nghiệp, vì lợi
nhuận trước mắt đã tự cho mình cái quyền dẫm đạp lên môi trường sống của hàng
nghìn, hàng vạn hộ dân sinh sống quanh khu vực nhà máy, xí nghiệp, khi họ công
khai hay lén lút, xả chất thải công nghiệp chưa qua xử lý ra các sông ngòi, gây thiệt
hại không gì bù đắp nổi cho sức khoẻ, cuộc sống của người dân.
Chẳng hạn như việc phát hiện vụ công ty Vedan xả nước thải ra sông Thị
Vải (Đồng Nai) đã làm cho nguồn nước của khu vực sông bị ô nhiễm hữu cơ trầm
trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối suốt ngày đêm, cả khi thuỷ triều lên và
xuống. Các chuyên gia cho biết, giá trị DO (chỉ số ô-xy hoà tan) ở đây thường
xuyên dưới 0,5 mg/l, có nơi chỉ 0,04 mg/l. Với giá trị DO gần như bằng 0 như vậy,
các loài sinh vật hầu như không còn khả năng sinh sống.
Hay là việc phát hiện ra vụ việc nhà máy Hyundai Vinashin (Khánh Hoà) bị
phát hiện đã chôn hàng chục tấn chất thải độc hại sát khu dân cư. Và gần đây nhất
đang gây bức xúc, công phẫn trong dư luận là sự việc xả thải chưa qua xử lý của
Công ty Đường Quảng Ngãi, một doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá, đã làm cá

chết nổi trắng trên sông Trà Khúc - một con sông quan trọng của miền Trung.
Ngoài ra còn có các công ty khác như: Miwon (Phú Thọ), Tung Kuang (Hải
Dương).
Trong khi đó, khung hình phạt hành chính cao nhất hiện nay cho việc vi
phạm này là 70 triệu đồng, còn đa phần là 30 - 40 triệu. Nhưng lãi ròng của các
doanh nghiệp này lên tới hàng chục tỷ đồng mà vẫn không chịu đầu tư xử lý chất
thải. Vì không ít nhà doanh nghiệp vẫn cho rằng, đầu tư trang thiết bị xử lý chất
thải, bảo vệ môi trường là rất tốn kém nên chưa cần thiết quan tâm đến vấn đề bảo
vệ môi trường sống trong quá trình sản xuất. Thực ra, đây là một nhận định hoàn
toàn sai, vì khi môi trường bị ô nhiễm nặng thì họ phải mất một khoảng chi phí lớn
hơn để phuc hồi nó. Thử hỏi một doanh nghiệp ngày đêm sản xuất để tạo ra sản
phẩm để làm gì? Tất nhiên là sẽ có nhiều người trả lời là để phục vụ cho cuộc
sống. Thiết nghĩ đó là một điều tốt nhưng có mấy ai nghĩ rằng để sản xuất ra số sản
phẩm đó không ít doanh nghiệp đã thải ra môi trường bao nhiêu là chất thải. Phần
lớn chất được thải ra là chưa qua xử lí. Mọi người thấy sao khi những con sông
hiện nay đang bị ô nhiễm nặng, nước đen, mùi hôi bốc lên và vô số những rác thải,
rác thải công nghiệp có, rác thải sinh hoạt có. Và đó là nguyên nhân gây ra vô số
bệnh tật. Việc kinh doanh của họ là không có đạo đức và hành xử vô trách nhiệm
với môi trường, người lao động và ngay cả với xã hội đang nuôi dưỡng công ty.
Việc làm giàu của doanh nghiệp không những phải phù hợp với pháp luật, mà còn
phải bảo đảm và tôn trọng lợi ích chính đáng và hợp pháp của khách hàng và đối
tác. Không thể chỉ trông đợi vào sự tự nguyện hay kêu gọi đạo đức, luật pháp,
người tiêu dùng, xã hội phải phát hiện, ngăn chặn và trừng phạt các hành động gian
trá, lừa đảo, đồng thời khuyến khích, ủng hộ các doanh nghiệp làm ăn chính đáng.
Vấn đề đặt ra là, cần tìm ra nguyên nhân và những giải pháp để khắc phục những
tình trạng tiêu cực đó.
4. Những thách thức và khó khăn trong việc thực hiện trách nhiệm xã hội.
Những nguyên nhân mà các doanh nghiệp việt nam không thực hiện hay còn
quá xa lạ với khái niệm trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đó là do:
1. Do nhận thức về trách nhiệm xã hội trong và giữa các doanh nghiệp Việt
Nam còn có sự khác nhau khá lớn; Việc áp dụng các bộ tiêu chuẩn trách nhiệm xã
hội tại doanh nghiệp còn chồng chéo, nhận thức về lợi ích thực tiễn,việc thực hiện

trách nhiệm xã hội cũng như nhận thức về luật lao động,quyền và nghĩa vụ của
người lao động còn chưa đầy đủ.
2. Năng suất lao động bị ảnh hưởng khi phải thực hiện đồng bộ nhiều bộ quy
tắc ứng xử (COC).
3. Thiếu nguồn tài chính và kỹ thuật để thực hiện các chuẩn mực trách nhiệm xã
hội doanh nghiệp (đặc biệt là đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ). Thiếu thông
tin, sau nữa là hàng loạt khó khăn về tài chính công tác quản lí nguồn nhân lực.
4. Việt Nam vẩn chưa có một quyết định nào của nhà nước và giao vấn đề này
cho cơ quan nào chịu trách nhiệm. Sự khác biệt giữa Bộ luật lao động và bộ quy
tắc ứng xử của khách đặt hàng gây nhầm lẫn cho doanh nghiệp, chẳng hạn như vấn
đề làm thêm hay hoạt động của công đoàn.
5. Sự thiếu minh bạch trong việc áp dụng trách nhiệm xã hội doanh nghiệp trên
thực tế đang cản trở lợi ích thị trường tiềm năng mang lại cho doanh nghiệp.
6. Mâu thuẫn trong các quy định của nhà nước khiến cho việc áp dụng bộ quy
tắc ứng xử không đem lại hiệu quả mong muốn, ví dụ như mức lương, phúc lợi và
các điều kiện tuyển dụng
7. Các băn khoăn của doanh nghiệp đưa ra tập trung ở một số điểm sau:
Hầu hết các doanh nghiệp việt nam đều ích vốn,thực hiện trách
nhiệm xã hội sẽ tăng thêm chi phí đầu tư,tăng giá thành sản phẩm.
Các yếu tố như: Thiếu người thực hiện, tốn thời gian, cộng với
nhận thức của người lao động ích ỏi.
Những nguyên nhân được liệt kê ra trên đây có thể quy lại thành ba nguyên
nhân chính, đó là nguyên nhân về nhận thức,nguyên nhân kinh tế và nguyên nhân
pháp lý. Do đó, để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp, cần bám sát những
nguyên nhân nói trên để đề ra những giải pháp phù hợp.

5. Một số giải pháp và kiến nghị cần thiết để nâng cao trách
nhiệm xã hội của doanh nghiệp
5.1. Giải pháp:

- Công tác tuyên truyền, giáo dục rất quan trọng, bởi tất cả những hành vi của

-

-

-

con người đều thông qua ý thức của con người, đều do ý thức của họ điều
khiển. Do đó, vấn đề đặt ra là, phải làm sao cho việc thực hiện trách nhiệm
xã hội của doanh nghiệp trở thành động cơ bên trong của các chủ doanh
nghiệp. Việc thực hiện trách nhiệm xã hội trước hết cần được xem là một
hành vi đạo đức và được điều khiển bằng động cơ đạo đức. Đây chính là giải
pháp bên trong đạo đức.
Thiết lập cơ sở pháp lý cần thiết đồng thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn, vận
động các tổ chức thuộc xã hội dân sự Việt Nam như Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam, các Hiệp hội ngành nghề, như Dệt may, Xuất khẩu
Thuỷ sản, Hiệp hội các nhà đầu tư tài chính , v. v thực hiện các tiêu chuẩn
và quy định của trách nhiệm xã hội, nhất là đối với người lao động để quá
trình hoạt động, đóng góp thiết thực. Bản thân các hiệp hội đó còn cần phải
nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả thiết thực đối với hội viên.
Khuyến khích những sáng tạo và thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.Tạo cơ
chế và các biện pháp khen thưởng thích đáng cho những doanh nghiệp thực
hiện tốt trách nhiệm xã hội.
Nâng cao trách nhiệm của nhà nước trong việc tạo môi trường và khung
pháp lý cho doanh nghiệp hoạt động. Khung pháp lý chính là biện pháp có
hiệu lực nhất đối với việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp;
đồng thời, là giải pháp hỗ trợ đắc lực cho giải pháp về đạo đức, làm cho các
động cơ đạo đức thường xuyên được củng cố và ngày càng có hiệu lực trên
thực tế. Cái khó khăn cho Việt Nam và các nước đang phát triển nói chung
là trong bối cảnh cần phải thu hút đầu tư nước ngoài, nếu đặt nặng các mục
tiêu về môi trường và xã hội thì các doanh nghiệp khó có thể thu hút đầu tư
nước ngoài. Nhưng, nếu không đặt mạnh vấn đề trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp thì những hậu quả về môi trường và xã hội sẽ không thể bù
đắp được bằng các kết quả của sự tăng trưởng kinh tế. Mục tiêu phát triển
bền vững, do vậy, cũng không thể thực hiện được.
Các doanh nghiệp phải đảm bảo được hoạt động của mình:
Điều 5 của luật Lao động quy định là: Mọi người đều có quyền làm việc, tự
do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề
nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc, thành phần xã hội,
tín ngưỡng, tôn giáo. Cấm ngược đãi người lao động, cấm cưỡng bức người
lao động dưới bất kỳ hình thức nào. Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo

việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh thu hút người lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều
kiện thuận lợi hoặc giúp đỡ.
Đối với người tiêu dùng:
Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục
đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức.
Đảm bảo được hoạt động của doanh nghiệp không gây ra những tác
hại đối với môi trường sinh thái, thể hiện sự thân thiện môi trường trong
hoạt động sản xuất, đây là tiêu chuẩn quan trọng đối với khách hàng, phải
cung cấp sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có chất lượng tốt, không gây tổn hại
đến sức khỏe của người tiêu dùng, đảm bảo an toàn thực phẩm, thông tin về
sản phẩm chính xác để người tiêu dùng biết và hiểu thêm về sản phẩm mà họ
có nhu cầu mua sử dụng.
Đối với chủ sở hữu doanh nghiệp:
Bảo tồn và phát triển các giá trị và tài sản được ủy thác. Trong quá
trình hoạt động, lãnh đạo tạo ra từ xã hội hay là cá nhân được chủ sở hữu tự
nguyện giao phó cho tổ chức, doanh nghiệp. Khía cạnh pháp lý trong trách
nhiệm xã hội của một doanh nghiệp là phải thực hiện những quy định về
pháp lý chính thức đối với các bên hữu quan. Nghĩa vụ pháp lý gồm 5 khía
cạnh: Điều tiết cạnh tranh, bảo vệ khách hàng, bảo vệ môi trường, thúc đẩy
sự công bằng và an toàn, khuyến khích phát hiện và ngăn chặn hành vi sai
trái. Các tổ chức, doanh nghiệp không hoạt động lâu dài và bến vững nếu
không thực hiện trách nhiệm pháp lý, buộc các thành viên phải thực hiện các
hành vi đúng được xã hội chấp nhận và cho phép.
Cụ thể:
Không gây ra những tác hại đôối với môi trường sinh thái, tức là phải thể
hiện sự thân thiện với môi trường trong quá trình sản xuâốt của mình,
đây là một têu chí râốt quan trọng đôối với người têu dùng;
Phải biêốt quan tâm đêốn người lao động, người làm công cho mình không
chỉ vêề mặt vật châốt mà còn vêề mặt tnh thâền, buộc người lao động làm
việc đêốn kiệt sức hoặc không có giải pháp giúp họ tái tạo sức lao động
của mình là điêều hoàn toàn xa lạ với trách nhiệm xã hội của doanh
nghiệp;

Phải tôn trọng quyêền bình đẳng nam nữ, không được phân biệt đôối xử
vêề mặt giới tnh trong tuyển dụng lao động và trả lương mà phải dựa
trên sự công bằềng vêề nằng lực của môỗi người;
Không được phân biệt đôối xử, từ chôối hoặc trả lương thâốp giữa người
bình thường và người bị khiêốm khuyêốt vêề mặt cơ thể hoặc quá khứ của
họ; Phải cung câốp những sản phẩm có châốt lượng tôốt, không gây tổn hại
đêốn sức khoẻ người têu dùng, đây cũng là một têu chí râốt quan trọng
thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp đôối với người têu dùng;
Dành một phâền lợi nhuận của mình đóng góp cho các hoạt động trợ giúp
cộng đôềng. Vì cộng đôềng và san sẻ gánh nặng với cộng đôềng đang là một
mục têu mà các doanh nghiệp có trách nhiệm xã hội đang hướng tới
bên cạnh mục têu phát triển lợi nhuận của mình, như các chương trình
hôỗ trợ châu Phi, châu Á trong lĩnh vực chằm sóc sức khỏe của nhà tỷ phú
Bill Gates là một ví dụ têu biểu. Quả thực, seỗ có nhiêều trẻ em được cứu
sôống hơn, nhiêều trẻ em được đêốn trường hơn, nêốu các doanh nghiệp
sằỗn sàng chia sẻ lợi ích với cộng đôềng.
- Câền có các nghiên cứu cơ bản, khảo sát thực têố tại các doanh nghiệp đã
thực hiện và seỗ thực hiện các bộ quy tằốc ứng xử, để phát hiện những thuận
lợi cũng như các rào cản, khó khằn, thách thức, từ đó khuyêốn nghị các giải
pháp xúc têốn thực hiện trong thời gian tới. Có thể thâốy, trong quá trình
thực hiện trách nhiệm xã hội và các bộ quy tằốc ứng xử, các doanh nghiệp
phải chi phí khá lớn cho đâều tư để cải thiện các điêều kiện vệ sinh lao động
và môi trường. Trong điêều kiện cạnh tranh, nhiêều doanh nghiệp không thể
trang trải nổi những khoản chi này, bởi vậy có thể nhà nước phải hôỗ trợ cho
vay từ quyỗ hôỗ trợ phát triển, quyỗ xúc têốn thương mại với một chính sách
ưu tên, ưu đãi.
- Hình thành kênh thông tn vêề trách nhiệm xã hội cho các doanh nghiệp,
nhâốt là cung câốp các thông tn cập nhật vêề các bộ quy tằốc ứng xử; tư vâốn
cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện trách nhiệm xã hội và các
Bộ quy tằốc ứng xử Ở đây vai trò của các hiệp hội nghêề nghiệp (Hội dệt
may, Hội giày da, Hội xuâốt khẩu thuỷ sản) của Hội Công Thương, Vằn
phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, các Bộ, ngành là râốt lớn.
Bộ Quy tắc ứng xử về Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp:

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực lao động chủ yếu
thông qua các Bộ Quy tắc ứng xử Trách nhiệm xã hội. Các bộ Quy tắc quy định về
xã hội, môi trường và đạo đức giúp các doanh nghiệp thực hiện các tiêu chuẩn cao
hơn luật pháp quốc gia và đối với các nhà cung ứng (bên bán) phải được giám sát
việc thực hiện cũng như kiểm tra độc lập thường xuyên. Các Bộ Quy tắc này bắt
đầu xuất hiện từ đầu những năm 1990. Bộ đầu tiên do Levi Straus xây dựng năm
1991. Hiện nay ước tính có khoảng hơn 1000 Bộ Quy tắc ứng xử do các công ty đa
quốc gia xây dựng, trong đó có SA8000 do tổ chức quốc tế về Trách nhiệm xã hội
của Mỹ xây dựng (Social Accountability International  SAI).
Nội dung của các Bộ Quy tắc ứng xử đầu tiên rất khác nhau, nhưng ngày
nay các Bộ Quy tắc này chủ yếu tập trung vào các tiêu chuẩn của ILO. Hầu hết
các bộ Quy tắc này đều gồm 10 điểm, thể hiện các nguyên tắc trong công ước cơ
bản của ILO, chẳng hạn SA8000 có các quy định về Trách nhiệm xã hội sau : 1.
Lao động trẻ em; 2. Lao động cưỡng bức; 3. An toàn và vệ sinh lao động; 4. Tự do
hiệp hội và quyền thoả ước lao động tập thể; 5. Phân biệt đối xử; 6. Xử phạt; 7.
Giờ làm việc; 8. Trả công; 9. Hệ thống quản lý.

3.

Kiếến nghị:

- Thứ nhất, cần tuyên truyền giáo dục cho tất cả các doanh nghiệp về trách

-

-

nhiệm xã hội của họ, phải lam cho họ hiểu rằng trách nhiệm xã hội của
doanh nghiệp không phải chỉ bó gọn trong công tác từ thiện mà nó phải trở
thành động cơ bên trong của các chủ doanh nghiệp.
Thứ hai, nâng cao chất lượng các quy định pháp luật và tăng cường trách
nhiệm thực thi luật pháp.
Thứ ba, tập trung hoàn thiện luật và tính hiệu lực trong việc thực thi luật.
Thứ tư, tạo điều kiện tiếp cận và tra cứu văn bản pháp lý dễ dàng,văn bản
pháp luật được cập nhật thường xuyên,hướng dẫn phương pháp xử lý khi có
các xung đột giữa các quy tắc ứng xử.Khuyến khích những sáng tạo và thực
hiện tốt trách nhiệm xã hội.Tạo cơ chế và các biện pháp khen thưởng thích
đáng cho những doanh nghiệp thực hiện tốt trách nhiệm xã hội.
Thứ năm, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quy định của pháp
luật để có những biện pháp xử lý kịp thời khi các doanh nghiệp vi phạm,
đảm bảo một môi trường cạnh tranh công bằng giữa các doanh nghiệp.

- Thứ sáu, cần xây dựng một hành lang pháp lý bắt buộc các doanh nghiệp
phải thực thi trách nhiệm xã hội một cách đầy đủ và nghiêm túc.

III. Kết luận
Việc thực hiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp không chỉ làm cho doanh
nghiệp phát triển bền vững, mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của xã hội
nói chung. Đó là một công việc không thể bỏ qua trên con đường hội nhập của các
doanh nghiệp Việt Nam, bởi nó vừa mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, vừa mang
lại lợi ích cho xã hội, đặc biệt là nâng cao khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp,
của quốc gia và hỗ trợ thực hiện tốt hơn pháp luật lao động tại Việt Nam.

IV. Tài liệu tham khảo
- Trách nhiệm xã hội của các doanh nghiệp Việt Nam
http://www.365ngay.com.vn/index.php?
option=com_content&task=blogcategory&id=153&Itemid=17
- dantri.com.vn-13/4/2011- Đông Bích
- vn express-30/9/2008- Minh Thùy và Thiên Chương
- Trách nhiệm xã hội doanh nghiệp
http://nld.com.vn/tim-kiem/trach-nhiem-xa-hoi-doanh-nghiep.htm
- Bộ luật lao động năm 2012.
- ThS.Nguyễn Thị Thu Trang. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
http//www.Doanhnhan360.com/PortletBlank.aspx/44D1988963164E.
- Bộ Quy tắc ứng xử Trách nhiệm xã hội COC, bộ tiêu chuẩn ISO 9000,
bộ tiêu chuẩn ISO 14000, bộ tiêu chuẩn SA 8000

null