Receivable Allowance là gì

Dự phòng nợ xấu (tiếng Anh: Allowance For Bad Debt) hay còn được biết là dự phòng nợ phải thu khó đòi, là một tài khoản dùng để ước tính tỉ lệ nợ không đòi được trong một danh mục cho vay của ngân hàng.

  • 06-11-2019Dự phòng nợ phải thu khó đòi (Provision for bad receivable debts) là gì?
  • 11-09-2019Nợ khó đòi (Uncollectible accounts) là gì?
  • 30-08-2019Nợ phải thu (Receivables/Accounts receivable) là gì?
88979244-bad-debt-grunge-rubber-stamp-on-white-background-vector-illustration

Hình minh họa. Nguồn: 123rf.com

Dự phòng nợ xấu

Khái niệm

Dự phòng nợ xấu hay dự phòng nợ phải thu khó đòi, tiếng Anh gọi là allowance for bad debt hay allowance for doubtful accounts.

Dự phòng nợ xấu là một tài khoản dùng để ước tính tỉ lệ nợ không thể đòi trong một danh mục cho vay của ngân hàng. Khi người đi vay mất khả năng chi trả, dự phòng nợ xấu và khoản phải thu sẽ giảm theo giá trị sổ sách hoặc số tiền còn lại của khoản vay.

Dự phòng nợ phải thu khó đòi còn được dùng để ghi nhận những khoản phải thu không có khả năng thanh toán.

Hiểu rõ về dự phòng nợ xấu

Người cho vay phải trích lập dự phòng nợ xấu vì mệnh giá tổng các khoản vay của một ngân hàng không phải là số tiền chính xác mà họ sẽ thu về được sau này, vì một phần các khoản nợ sẽ không được thanh toán. Khi người đi vay không trả lãi hay gốc của một khoản vay, khoản vay đó được coi là mất khả năng chi trả. Phương pháp dự phòng nợ xấu ước tính những khoản nợ có thể mất khả năng chi trả.

Trích lập dự phòng

Giả sử người cho vay có một danh mục cho vay trị giá 100 triệu $, và họ sử dụng phương pháp trích lập dự phòng nợ xấu. Họ ước tính được là 2%, tương ứng với 2 triệu $ của giá trị cho vay có rủi ro mất khả năng chi trả. Vì thế, họ quyết định tăng chi phí nợ xấu trong bản báo cáo kết quả kinh doanh, và phần dự phòng nợ xấu gia tăng thêm 2 triệu $.

Trích lập dự phòng nợ xấu là tài khoản tài sản contra. Tài khoản dự phòng nợ xấu sẽ làm giảm khoản phải thu trên bản cân đối kế toán. Phần báo cáo tài chính này giúp người đọc biết được số lượng khoản nợ có thể mất khả năng chi trả.

Phân tích việc mất khả năng chi trả

Khi người cho vay xác nhận một khoản nợ là mất khả năng chi trả, họ sẽ giảm đồng thời khoản dự phòng nợ xấu và khoản phải thu. Bởi vì một khoản nợ mất khả năng chi trả thì không còn nằm trong khoản nợ xấu ước tính nữa. Sau khi hạch toán, các báo cáo kế toán sẽ cân bằng giữa chi phí nợ xấu với sự điều chỉnh trong khoản phải thu.

Điều chỉnh khoản dự phòng

Dự phòng nợ xấu luôn phản ánh những khoản nợ có khả năng mất chi trả hiện tại, và khoản dự phòng này sẽ được điều chỉnh theo thời gian để thể hiện giá trị của khoản đó. Ví dụ, nếu người cho vay ước tính sẽ có 2 triệu $ của khoản cho vay bị mất khả năng chi trả, nhưng hiện tại dự phòng nợ xấu là 1 triệu $, vậy thì họ chỉ cần điều chỉnh chi phí nợ xấu và hạch toán thêm 1 triệu $ vào khoản dự phòng nợ xấu.

(Theo Investopedia)

Mua bán nợ (Debt Trading) của tổ chức tín dụng là gì?

Mua bán nợ (Debt Trading) của tổ chức tín dụng là gì?                                          26-08-2019                                        Nợ phải trả (Liabilities) là gì? Các loại nợ phải trả chủ yếu trong Báo cáo tài chính