Nhân vật trong truyện ngắn là gì

Phần 2: Chương 2: Nhân vật trong tác phẩm văn học - Lý luận văn học pptx

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây  (190.9 KB, 11 trang )

40
Chương hai:
NHÂN VẬT TRONG TÁC PHẨM VĂN HỌC

I. KHÁI NIỆM NHÂN VẬT
a. Nhà văn Tô Hoài cho rằng: "Nhân vật là nơi duy nhất tập trung hết
thảy, giải quyết hết thảy trong một sáng tác" (1). Quả đúng như vậy, nhân vật
không chỉ là nơi bộc lộ tư tưởng, chủ đề tác phẩm mà còn là nơi tập trung các
giá trò nghệ thuật của tác phẩm. Thành bại của một đời văn, của một tác phẩm
phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng nhân vật.
Vậy nhân vật trong tác phẩm văn học là gì ?
Thông thường khi nói đến nhân vật trong tác phẩm văn học người ta
thường hiểu đó là con người được xây dựng bằng các phương tiện của văn học.
Thực ra phạm vi nhân vật rộng hơn. Nhân vật có thể là những con người được
miêu tả trong tác phẩm. Đó là những nhân vật như Thạch Sanh, A.Q, Chí Phèo,
Tartufe, Jean vant Jean, thằng bán tơ, "mụ nào" (gần miền có một mụ nào -
Truyện Kiều) hay có khi chỉ hiện ra qua một đại từ nhân xưng như "tôi',
"chàng", "thiếp", "mình", "ta" Nhưng trong nhiều trường hợp nhân vật lại
không phải là con người mà có khi chỉ là một "bông hoa" biết nói, một "con
cóc" biết kiện trời Thậm chí có cả ma, q, thần, tiên nữa. Những sự vật,
những đồ vật này trở thành nhân vật khi được "người hóa", nghóa là cũng mang
tâm hồn tính cách như con người. Cho nên không phải ngẫu nhiên mà nhà văn
Tô Hoài đã cho "chiếc quan tài" trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Công
Hoan là nhân vật. Ông viết: "Trong truyện ngắn Chiếc quan tài của Nguyễn
Công Hoan nhân vật không phải là người mà là một chiếc quan tài. Nhưng
chiếc quan tài ấy chẳng phải là vô tri mà là một sự thê thảm, một bản án tố
cáo chế độ thảm khốc thời Pháp thuộc. Như vậy "chiếc quan tài" cũng là một
thứ nhân vật" (2).
Biểu hiện nhân vật trong tác phẩm rất đa dạng. Có nhân vật hiện ra khá
đầy đặn từ ngoại hình cho đến nội tâm, từ hành động cho đến tiểu sử như trong
tác phẩm tự sự. Có nhân vật lại chỉ hiện ra qua ngôn ngữ như trong kòch bản


văn học. Có nhân vật lại chỉ được bộc lộ qua cảm xúc, ý nghóa như nhân vật
trong tác phẩm trữ tình. Lại có nhân vật không được miêu tả chân dung, ngoại
hình, hành động nhưng người đọc vẫn nhận ra qua "giọng văn" như nhân vật
người kể chuyện Có nhân vật hiện ra như con người bình thường ở ngoài đời.
Lại có nhân vật hiện ra với hình ảnh "ba đầu sáu tay", "mặt xanh nanh vàng"
như q sứ, hay lăn tròn long lóc như "sọ dừa" Có nhân vật chỉ đơn giản là
những con vật, những đồ vật được nhân hóa Có thể nói nhân vật hiện ra
muôn màu, muôn vẻ. Vậy làm thế nào để nhận diện ra nhân vật ?
41
Muốn nhận diện nhân vật cần phải căn cứ vào những đặc điểm của nó.
Trước hết có thể căn cứ vào tên gọi của nhân vật. Thông thường mỗi nhân vật
đều có tên gọi của nó. Có thể đó là một cái tên riêng cụ thể như An Dương
Vương, Sơn Tinh, Thủy Tinh, bà Phó Đoan, Cố Hồng, Văn Minh v.v Nhưng
cũng có khi tên gọi theo dấu hiệu nghề nghiệp, đặc điểm giới tính, tiểu sử, hay
một đặc điểm đặc biệt nào đó như anh trai cày, lão nhà giàu, chàng mồ côi,
thằng ngốc, chú lùn, chàng thợ săn, bà hoàng hậu, nàng công chúa Cũng có
khi tên nhân vật là tên gọi những con vật, đồ vật đã được nhân hóa như cáo,
thỏ, rùa, cái bàn, bông hoa, cành cây , hoặc là tên gọi những nhân vật tưởng
tượng: mụ phù thủy, con q ba đầu sáu tay, Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Thần,
Tiên, Bụt
Tuy nhiên nếu chỉ căn cứ vào tên gọi thì có khi chưa nhận diện đúng
nhân vật, chẳng hạn với loại nhân vật là những con vật, đồ vật được nhân hóa.
Với loại nhân vật này, cần phải xem đã được "người hóa" chưa ? Cùng miêu tả
bông hoa, nhưng viết "Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên" thì "hoa" đó chưa
phải nhân vật. Nhưng miêu tả "bông hoa" biết nói, biết suy nghó, biết buồn vui
thì đó lại là nhân vật. Cho nên sau tên gọi thường là những đặc điểm về tiểu
sử, tính cách. Thực ra ngay từ tên gọi một số nhân vật nhiều đặc điểm của nhân
vật đã được bộc lộ như anh trai cày, chàng ngốc, mụ phù thủy Các đặc điểm
nghề nghiệp tiểu sử, tính cách cho nhận biết nhân vật một cách sâu sắc hơn, ý
nghóa xã hội mà nhân vật khái quát. Trong thực tiễn, nhiều khi các đặc điểm

tính cách đã thay cho tên gọi nhân vật như "kẻ thắng lợi tinh thần" (A.Q), "con
người thừa" (E. Onegin) "đồ đạo đức giả" (Tartufe), "kẻ lười biếng" (Oblomov)
v.v Trong nhiều tác phẩm người ta đã lấy các đặc điểm làm công thức giới
thiệu nhân vật như Nguyễn Du giới thiệu Vương Ông: "Rằng năm Gia tónh triều
Minh , Có nhà Viên ngoại họ Vương, Gia tư nghỉ cũng thường thường bậc
trung, Một con trai thứ rốt lòng " Hay Lê Thánh Tông giới thiệu nhân vật
trong truyện Con chuột thành tinh: "Có một anh nhà giàu, hai mươi tuổi được
cha mẹ cưới cho một người vợ có nhan sắc mà anh rất thương yêu" (Thánh
Tông di thảo) v.v
Nhân vật văn học cũng có những đặc điểm khác với nhân vật của các
loại hình nghệ thuật khác. Trước hết do hình tượng văn học là hình tượng "phi
vật thể" cho nên nhân vật văn học là nhân vật của tưởng tượng, liên tưởng chứ
không phải "hữu hình", "nhìn thấy được" như trong điêu khắc, hội họa hay điện
ảnh, sân khấu. Qua ngôn từ, người đọc tưởng tượng và hình dung nhân vật theo
khả năng liên tưởng của mình. Qua văn Nam Cao người đọc hình dung ra Lão
Hạc, Lang Rận, Trương Rự, Thứ, Điền, Hộ Qua văn Nguyễn Tuân người đọc
tưởng tượng vẻ đẹp đầy khí phách của Huấn Cao, vẻ đẹp cường tráng của
người lái đò sông Đà Khả năng và đặc điểm liên tưởng của mỗi người không
giống nhau cho nên nhân vật văn học được cảm nhận cũng không hoàn toàn
42
giống nhau. Mỗi người sẽ có "gương mặt" nhân vật riêng của mình. Mặt khác,
do hình tượng văn học là hình tượng "thời gian" cho nên nhân vật văn học là
nhân vật quá trình. Nhân vật văn học hiện dần ra trong quá trình. Muốn tiếp
nhận được người đọc phải "hồi cố", nhớ lại những gì xảy ra cho nhân vật trước
đó.
Nói gọn lại, nhân vật trong tác phẩm văn học là những con người hay
những sự vật mang cốt cách của con người được xây bằng các phương tiện của
nghệ thuật ngôn từ.
b. Ý nghóa của nhân vật thể hiện ở khả năng biểu đạt của nó trong tác
phẩm. Sáng tạo ra nhân vật, nhà văn nhằm thể hiện những cá nhân xã hội nhất

đònh và các quan niệm về các nhân vật đó trong các quan hệ xã hội. Mỗi nhân
vật xuất hiện sẽ là một "tiếng nói" của nhà văn về con người, về cuộc đời. Đọc
một nhân vật do vậy ta không chỉ hiểu một số phận, một cuộc đời mà còn hiểu
ý nghóa cuộc đời đằng sau mỗi số phận đó. Đằng sau số phận nàng Kiều là
những khái quát về "tài - mệnh", "tài - tình" trong xã hội lúc bấy giờ. Đằng sau
"số đỏ" của Xuân Tóc Đỏ không chỉ là sự "may mắn" của một anh nhặt ban
quần mà còn là suy xét về sự "lên ngôi" của cái giả, những chuyện tưởng như
"biết rồi" mà vẫn phải "khổ lắm, nói mãi".
Cho nên không thể đánh giá, phán xét nhân vật như những con người
thật ngoài đời, mà phải đánh giá ở những khái quát nghệ thuật mà nó thể hiện.
Có như vậy mới xem xét nhân vật như là một hiện tượng thẩm mó chứ không
phải như một hiện tượng xã hội học.
Sức sống của một nhân vật ngoài tính sinh động của sự miêu tả còn
chính là ý nghóa điển hình mà nó khái quát. Những nhân vật xây dựng thành
công và có sức sống lâu bền đều là những nhân vật có giá trò điển hình sâu sắc.
Đó là những nhân vật không chòu nằm yên trên trang sách mà đã bước từ trang
sách ra giữa cuộc đời. Đó là những nhân vật đã làm cho tên tuổi các nhà văn
trở thành bất tử.
II. CÁC KIỂU LOẠI NHÂN VẬT
Thế giới nhân vật do nhà văn sáng tạo ra thật phong phú. Trong lòch sử
văn học đã có biết bao nhiêu nhân vật với những đường nét, diện mạo, tính
cách khác nhau. Chỉ riêng Chiến tranh và hòa bình thôi, L. Tolstoi đã sáng tạo
trên sáu trăm nhân vật mà không nhân vật nào giống nhân vật nào. Chỉ một
đời văn như H. Balzac thôi ông đã sáng tạo ra trên hai nghìn nhân vật và ông
nhớ không sót một chân dung tiểu sử nào của ngần ấy nhân vật. Có bao nhân
vật có bấy nhiêu dáng vẻ, bấy nhiêu cuộc đời, bởi lẽ mỗi nhân vật là một sáng
tạo độc đáo của nhà văn. Tuy nhiên, nếu đặt trong cái nhìn hệ thống cũng có
thể thấy thế giới nhân vật muôn màu muôn vẻ ấy nằm trong những kiểu loại
43
nhất đònh. Ở đây chỉ nêu lên một số kiểu loại chính thường gặp trên các bình

diện nội dung tư tưởng, kết cấu - cốt truyện, thể loại, cấu trúc mà thôi.
a. Từ góc độ nội dung tư tưởng, căn cứ vào phẩm chất nhân vật có thể
chia ra nhân vật chính diện, nhân vật phản diện, nhân vật trung gian.
Nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) là loại nhân vật mang
trong mình những phẩm chất cao đẹp, đại diện cho cái tốt, cái thiện. Loại nhân
vật này thường là hiện thân cho những khát vọng cao cả của nhà văn và thời
đại. Do vậy, phần nhiều nhân vật chính diện đã trở thành nhân vật lí tưởng của
thời đại mình. Người quân tử trong văn học cổ phương Đông, người hiệp só
trong văn học Phục hưng hay người chiến só trong văn học cách mạng đều là
những nhân vật chính diện mang lí tưởng của một thời.
Ngược lại với nhân vật chính diện là nhân vật phản diện (còn gọi là
nhân vật tiêu cực). Nhân vật phản diện đại diện cho cái xấu, cái ác, mang
những phẩm chất xấu xa, trái với đạo lí, lí tưởng. Đấy là những nhân vật đại
diện cho những thế lực phản động, lạc hậu ngăn cản cái tốt, cái đẹp. Đấy là mẹ
con Cám trong Tấm Cám, là Lư Kỉ, Hoàng Tung trong Nhò độ mai, là Bùi
Kiệm, Trònh Hâm trong Lục Vân Tiên v.v Gương mặt của nhân vật phản diện
có khi hiện ra rất rõ, rất dễ nhận diện như trong văn học dân gian, trong truyện
Nôm, nhưng cũng có khi chìm lẫn trong sự đa diện của tính cách như trong văn
học hiện thực chủ nghóa. Có thể đó là những nhân vật có bộ mặt nhân nghóa ở
bên ngoài, mà bên trong nham hiểm "giết người không dao" như Bá Kiến (Chí
Phèo), tàn ác như Nghò Quế (Tắt đèn), vô luân như Nghò Hách (Giông tố) v.v
Đứng giữa nhân vật chính diện và phản diện là nhân vật trung gian. Đây
là loại nhân vật có thể tốt lên hoặc xấu đi tùy theo tác động của hoàn cảnh.
Sự phân biệt nhân vật chính diện và nhân vật phản diện không phải bao
giờ cũng rạch ròi, rõ nét. Trong những thời kì đối kháng xã hội, đối kháng giai
cấp, tư tưởng quyết liệt xuất hiện hai loại nhân vật này, thậm chí còn tạo nên
những tuyến đối lập. Chẳng hạn trong truyện kể dân gian, trong truyện Nôm
phân tuyến nhân vật chính diện và phản diện rất rõ. Một bên là Thạch Sanh,
một bên là Lí Thông (Thạch Sanh) một bên là Mai Bá Cao, Mai Lương Ngọc,
Trần Đông Sơ, Hạnh Nguyên , một bên là Lư Kỉ, Hoàng Tung, Hầu Loan,

Giang Khôi (Nhò độ mai); một bên là Lục Văn Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Tử
Trực, Hớn Minh , một bên là Võ Công, Bùi Kiệm, Trònh Hâm, Đặng
Sinh <BI> (Lục Vân Tiên)<D> v.v Trong những anh hùng ca cổ đại lại
không có nhân vật phản diện. Chẳng hạn như trong anh hùng ca Iliade của
Homere dù Asin đánh thành Troy, giết Hecto thì Asin vẫn là người anh hùng.
Cả Hecto cũng vậy, dù bò tiêu diệt vẫn là nhân vật chính diện. Đến văn học
hiện thực chủ nghóa vấn đề phân biệt chính diện và phản diện trở nên phức tạp
hơn. Trong văn học cổ trung đại, với đặc điểm của nhân vật còn mang dấu ấn
44
loại hình khá rõ, nên việc phân biệt nhân vật chính diện và phản diện thuận lợi
hơn. Ở chủ nghóa hiện thực, nhân vật đã trở thành tính cách, có khi bao hàm cả
đặc điểm chính diện và phản diện "vừa cái tầm thường, vừa cái cao cả, vừa cái
buồn cười lẫn cái nghiêm túc" (Bakhtin) do đó khó xếp nhân vật thuần túy là
phản diện hay chính diện. Có những nhân vật có thể phân biệt ngay như chò
Dậu và Nghò Quế trong Tắt đèn, Bá Kiến trong Chí Phèo Nhưng có nhân vật
như Chí Phèo chẳng hạn thật khó xếp vào loại nào. Hắn vừa được xem là "con
q dữ" của làng Vũ Đại, lại là nỗi khát khao lương thiện của con người Cho
nên trong chủ nghóa hiện thực không nhất thiết lúc nào cũng phân biệt chính
diện và phản diện. Vả chăng "chính diện" và "phản diện" cũng không phải là
thước đo duy cho phẩm chất nhân vật. Sự "đa diện" của nhân vật tính cách
trong chủ nghóa hiện thực đã khiến cho nó không chỉ là đại diện cho một "diện"
nào nữa mà nhiều khi là tất cả. Ý nghóa của nhân vật nằm ngay ở chỗ "đa
diện" đó, chứ không phải ở chỗ qui nó về một "diện" cụ thể nào đó.
b. Từ góc độ kết cấu - cốt truyện có thể chia ra nhân vật chính, nhân vật
trung tâm, nhân vật phụ.
Nhân vật giữ vai trò then chốt, xuất hiện nhiều trong tác phẩm gọi là
nhân vật chính. Nhân vật chính là nhân vật liên can đến các sự kiện chính,
hành động chính của tác phẩm. Nhân vật chính thường được khắc họa tương đối
đầy đặn trên các mặt ngoại hình, nội tâm, tính cách, quá trình phát triển.
Lựa chọn nhân vật nào làm nhân vật chính có ý nghóa rất quan trọng, vì

nó sẽ góp phần bộc lộ nội dung tư tưởng của tác phẩm, thể hiện tài năng của
nhà văn. Từ Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân đến Truyện Kiều
của Nguyễn Du có sự thay đổi về nhân vật chính, nội dung ý nghóa của tác
phẩm cũng khác hẳn. Từ chuyện tình tay ba Kim - Vân - Kiều đến chuyện số
phận tài hoa bạc mệnh của nàng Kiều, Nguyễn Du đã làm cho tác phẩm trở
nên bất hủ. Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có lí khi viết rằng: "Tôi cứ đặt
câu hỏi rằng, giả sử Nguyễn Du vẫn cứ viết hay đến như thế, tả cảnh, tả tình, tả
tính cách nhân vật và văn chương vẫn tuyệt diệu như thế, nhưng nhân vật chính
không phải là nàng Kiều mà là một nhân vật khác, thí dụ như Kim Trọng hoặc
Thúy Vân, tức là những con người có số phận may mắn nhờ trượt ra khỏi những
bất công xã hội, vâng, thí dụ như chuyện nàng Vân, chuyện chàng Kim và
nàng Kiều tài sắc vẫn có mặt như một nhân vật phản diện để làm nổi bật số
phận tốt đẹp của chàng Kim, thì thử nghó xem, liệu Nguyễn Du có lớn như
chúng ta mong muốn không và liệu tác phẩm của ông có tồn tại như nó đã từng
tồn tại không" (3).
Mỗi nhà văn, mỗi thời đại đều có nhân vật chính của mình. Nhân vật
chính thể hiện tư tưởng của nhà văn và thời đại. Nhân vật chính trong sáng tác
của Nam Cao là những số phận bi kòch, những con người bò tha hóa dù đó là
nông dân hay trí thức. Nhân vật chính của Nguyễn Tuân lại là những con người
45
mang vẻ đẹp tài hoa, khí phách. Thạch Lam chú ý đến thế giới những con
người bé nhỏ, những số phận mòn mỏi nơi một góc khuất nào đó của cuộc
sống Tìm hiểu nhân vật chính của nhà văn giúp người đọc hiểu được tư
tưởng, khát vọng và suy tư của họ trước cuộc đời.
Trong tác phẩm có nhiều nhân vật chính thì nhân vật chính quan trọng
nhất, có ý nghóa xuyên suốt tác phẩm được gọi là nhân vật trung tâm. Đó là
các nhân vật như Jean Christophe, EnmaBovary, Prométheus, Lecid, Kiều,
Hamlet Các mâu thuẫn, các vấn đề trung tâm thường được tập trung và bộc
lộ ở các nhân vật trung tâm này. Cho nên trong nhiều trường hợp người ta lấy
tên nhân vật chính có ý nghóa trung tâm đặt tên cho tác phẩm như Don Quijote,

Othello, A. Q chính truyện, Prometheus bò xiềng, Edip làm vua, Lecid,
Andromaque
Trong hệ thống kết cấu - cốt truyện của tác phẩm, ngoài nhân vật giữ
vai trò chính, còn có nhân vật giữ vai trò phụ, thứ hai, đó là nhân vật phụ. Gọi
là nhân vật phụ là vì nhân vật giữ "vai trò phụ" chứ không phải không quan
trọng. Nó là loại nhân vật phụ trợ, có tính chất bổ sung, nhưng không thể thiếu.
Đúng như G.N. Pospelov nhận xét đó là "nhân vật giữ chức năng "giây cót" cho
bộ máy cốt truyện vận động" (4). Chẳng hạn "thằng bán tơ" là một nhân vật rất
phụ trong Truyện Kiều. Nhưng không có nhân vật này thì sẽ cũng không có sự
kiện "gia biến" dẫn đến các sự kiện "bán mình", "15 năm lưu lạc" về sau v.v
c. Xét từ góc độ thể loại có thể có nhân vật tự sự, nhân vật kòch, nhân
vật trữ tình.
Nhân vật tự sự là nhân vật được miêu tả theo phương thức tự sự, chủ yếu
xuất hiện trong các tác phẩm tự sự như trong tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện
vừa, truyện thơ. Đây là loại nhân vật có thể được miêu tả đầy đặn nhất, phong
phú nhất, ít bò hạn chế.
Nhân vật kòch là nhân vật được miêu tả theo phương thức kòch, chủ yếu
xuất hiện ở trong kòch. Vì kòch viết là để diễn bò hạn chế bởi không gian và
thời gian nên nhân vật kòch chỉ được miêu tả ở những khâu xung đột căng thẳng
nhất. Do đó nhân vật kòch giàu kòch tính, góp phần tạo nên tính kòch của vở
kòch.
Các nhân vật có tính kòch trong tư sự là loại nhân vật gần gũi với nhân
vật kòch.
Nhân vật trữ tình là nhân vật được xây dựng theo phương thức trữ tình,
trực tiếp thể hiện cảm xúc, ý nghó trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình thường
xuất hiện dưới dạng phiến đoạn trong nhiều thể loại khác nhau như thơ trữ tình,
bút kí, tùy bút nhưng chủ yếu là trong thơ trữ tình và thường gọi là "cái tôi trữ
tình".
46
d. Xét từ góc độ chất lượng nghệ thuật người ta thường dùng các khái

niệm tính cách và điển hình để chỉ những nhân vật được khắc họa rõ nét.<MI>
Tính cách là những nhân vật đã được khắc họa có chiều sâu với những
đặc điểm tâm lí, diện mạo tương đối rõ nét, đủ đònh hình để nhận ra đặc điểm
của nhân vật đó.
Thuật ngữ tính cách cũng có khi được dùng với nghóa là một phương diện
quan trọng của nhân vật để phân biệt với các phương diện khác như chân dung,
ngoại hình.
Tính cách đạt đến mức độ thật sâu sắc thì đó là điển hình. Chỉ trong
những tác phẩm xuất sắc mới có những tính cách đạt đến trình độ điển hình. Đó
là các tính cách như A.Q, Tartufe, Apagon, Oblómov, Hamlet, Don Quijote
v.v
e. Từ góc độ cấu trúc nhân vật có thể chia ra các loại: nhân vật chức
năng, nhân vật tư tưởng, nhân vật loại hình, nhân vật tính cách.
Nhân vật chức năng còn gọi là "nhân vật mặt nạ", là loại nhân vật thực
hiện một số chức năng nào đó. Chẳng hạn như bụt là nhân vật thực hiện chức
năng "ban phép màu" hoặc "thử lòng", mụ phù thủy lại thực hiện chức năng
cản trở, hãm hại người tốt. Còn người anh hùng thực hiện chức năng "đánh
chằn tinh cứu người đẹp" v.v
Các nhân vật chức năng thường được cấu trúc như một phương tiện,
công cụ. Do vậy phẩm chất nhân vật dường như không thay đổi từ đầu đến
cuối. Đời sống nội tâm của nhân vật cũng không được miêu tả. Nhân vật chỉ
xuất hiện ở chức năng mà nó đảm nhận.
Loại nhân vật chức năng chủ yếu xuất hiện trong văn học dân gian và
văn học cổ trung đại. Có thể kể đến các nhân vật loại này như bụt, thần, đại
bàng, anh hùng đÿnh chằn tinh cứu người đẹp, anh chàng ngốc, mụ phù thủy,
người thông minh, các vai trung, nònh trong tuồng v.v
Nhân vật loại hình là loại nhân vật mà ở đó có một nét tính cách được tô
đậm trở nên tiêu biểu cho loại người nào đó trong xã hội của những thời đại
nhất đònh.
Loại nhân vật này dựa trên cơ sở tập trung miêu tả một nét tính cách nổi

bật và thường là nét tính cách trở thành tên gọi của nhân vật. Đó là nét "keo
kiệt" của Apagon, nét "đạo đức giả" của Tartufe trong hài kòch Molière, nét
"con người bổn phận" trong Horatius hay Simen của P. Corneille v.v Với loại
nhân vật này, đúng như A. Puskin đã nhận xét về Molière: "Ở Molière người
keo kiệt thì keo kiệt và chỉ có thế". Tính chất độc diện này làm cho những nét
tính cách của nhân vật thể hiện sâu sắc, thậm chí nhiều khi đạt đến trình độ
điển hình, nhưng không tránh khỏi sự phiến diện. Cho nên có người đã gọi đây
47
là những nhân vật "lép kẹp" để phân biệt với loại nhân vật tính cách "đầy
đặn".
Nhân vật tính cách là loại nhân vật có cá tính đầy đặn nhiều mặt. Nhân
vật tính cách thường được xem như một nhân cách, là "con người này" như G.
V. Hegel đã chỉ rõ. Đây là nhân vật "vừa lạ, vừa quen". "Lạ" vì cái độc đáo
của cá tính, tính cách. "Quen" vì mang trong nó sự khái quát cao, tiêu biểu cho
nhiều hiện tượng cùng loại. Cấu trúc nhân vật tính cách là khả năng cao nhất
của các loại nhân vật trong việc khái quát và chiếm lónh thực tại. Theo nghóa
chặt chẽ nhất, nhân vật tính cách chỉ có thể xuất hiện ở chủ nghóa hiện thực.
Các nhân vật như Anna Kanenina, Neklliudov của L. Tolstoi, Hamlet, Othello
của W. Shakespeare, Bovari của G. Flaubert, Kiều của Nguyễn Du đều có
thể xem là những nhân vật tính cách.
Nét khác nhau căn bản giữa nhân vật tính cách và nhân vật loại hình là
ở chỗ một bên tính cách đa diện như một cá nhân, còn một bên chỉ có một nét
tính cách được tô đậm thành loại hình. Hai loại nhân vật này đều là những
nhân vật được khắc họa một cách rõ nét.
Nhân vật tư tưởng là loại nhân vật giữ chức năng bộc lộ một tư tưởng,
một quan niệm nào đó. Do vậy suy đến cùng nhân vật tư tưởng cũng là một
dạng của nhân vật chức năng. Nhân vật tư tưởng thường giữ vai trò "cái loa"
phát ngôn cho tư tưởng tác giả. Do đó loại nhân vật này rất dễ trở nên công
thức minh họa. Trong Những người khốn khổ của V. Hugo những nhân vật như
Jean vant Jean, Jave đều được xem là nhân vật tư tưởng. Jean vant Jean hoạt

động theo tư tưởng phụng sự con người, còn Jave lại là biểu hiện của tư tưởng
phụng sự luật pháp. Các nhân vật như Đạm Tiên trong Truyện Kiều của
Nguyễn Du, ông Quán trong Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu cũng là
loại nhân vật tư tưởng. Ở đây các nhân vật này cũng giữ vai trò "phát ngôn"
cho tác giả. Đạm Tiên "phát ngôn" cho tư tưởng "tài mệnh tương đố" của
Nguyễn Du. Ông Quán phát ngôn cho tư tưởng nhân nghóa của Nguyễn Đình
Chiểu.
Trên đây là một số kiểu và loại nhân vật thường gặp. Cách phân chia ra
các loại kiểu khác nhau ở trên là tương đối. Trong thực tế không phải bao giờ
cũng phân đònh nhân vật một cách rạch ròi như vậy được.
Tuy nhiên với việc phân chia nhân vật ra các kiểu loại cho phép nắm bắt
dễ dàng hơn. Và từ đó tiến hành phân tích nhân vật cũng thuận lợi hơn. Chẳng
hạn không thể phân tích nội tâm trong các nhân vật Tấm Cám
được bởi đó
không phải là nhân vật tính cách mà nhân vật chức năng. Hay cũng sẽ sai lầm
nếu phân tích các nhân vật trong văn học hiện thực lại không chú ý tâm lí, nội
tâm nhân vật v.v
48
III. CÁC BIỆN PHÁP XÂY DỰNG NHÂN VẬT
Đọc tác phẩm văn học, người đọc có thể hình dung ra được các nhân vật
như đang hoạt động, đang hiện diện. Đó là kết quả của quá trình xây dựng
nhân vật. Các phương thức thể hiện nhân vật hết sức đa dạng, phong phú. Mỗi
nhà văn có một đường hướng riêng, cách thức riêng trong miêu tả nhân vật.
Mỗi phương pháp nghệ thuật, mỗi giai đoạn lòch sử cũng có những cách thức
miêu tả nhân vật không giống nhau. Đối với mỗi loại hình nhân vật cũng có
biện pháp miêu tả phù hợp. Do đó, ở đây chỉ có thể nêu biện pháp xây dựng
nhân vật chung nhất mà nhà văn có thể sử dụng.
1. Nhân vật trước hết được miêu tả bằng các chi tiết nghệ thuật. Các chi
tiết nghệ thuật thể hiện các phương diện khác nhau của nhân vật từ chân dung
ngoại hình cho đến tính cách, nội tâm, từ hành động cho đến ngôn ngữ. Qua

các chi tiết, nhân vật dần dần hiện lên và dần dần bộc lộ ra các nét khác nhau
của tính cách.
Để miêu tả ngoại hình, cÿc chi tiết dừng lại ở việc miêu tả áo, quần,
mặt mũi, chân tay, ánh mắt, nụ cười Mỗi nét ngoại hình này không chỉ gợi
lên sự hình dung về dáng vẻ nhân vật như thế nào mà còn gợi lên cả tâm tính,
bản chất bên trong của nhân vật. Cái vẻ "mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh
bao" tố cáo cái "trai lơ" của Mã Giám Sinh. Hình ảnh "Thoắt trông nhờn nhợt
màu da", với cái dáng "ăn gì to lớn đẫy đà làm sao" cũng phần nào nói lên cái
tâm đòa bên trong của mụ trùm lầu xanh Tú Bà. Nhà văn miêu tả ngoại hình
"trông mặt" bên ngoài để bắt cái "hình dong" bên trong của nhân vật. Khi
Nguyễn Công Hoan nhìn một ông quan: "Quan lại có hình thể khác hẳn, vì ở
ngài cái gì cũng cong, từ cái sống mũi tới cái lương tâm, từ cái lưng đến cách
xử kiện" (Nguyễn Công Hoan - Đàn bà là giống yếu) thì tác giả đã qua cái
"cong" của hình thể để nói lên cái "cong" của nhân cách quan phụ mẫu.
Để miêu tả nội tâm, các chi tiết thường dừng lại ở những suy tư, dằn vặt,
những cảm xúc, xúc động của nhân vật. Có lẽ hơn ở đâu hết, các phương tiện
văn học có khả năng vô tận trong việc thể hiện thế giới nội tâm của con người.
Tuy nhiên, về phương diện này không phải bao giờ trong văn học cũng giống
nhau. Trong các giai đoạn phát triển đầu tiên của văn học, tâm lí nhân vật
không được miêu tả, các nhân vật chỉ hành động mà ít dừng lại suy tư. Phải đến
những giai đoạn văn học về sau tâm lí nhân vật mới được miêu tả. Thoạt đầu
chỉ là việc miêu tả các trạng thái tình cảm, cảm xúc. Kiểu như nỗi đau của
Pariam khi phải chứng kiến cái chết của con mình Hecto: "Tôi đang chòu đựng
một điều mà trên đời này chưa ai phải chòu đựng" (Iliad). Phải đến giai đoạn
phát triển của chủ nghóa hiện thực qua sáng tác của các nhà văn như F. M.
Dostoevsky, G. Flaubert, L. Tolstoi mới xuất hiện "biện chứng pháp tâm hồn"
Nội tâm nhân vật cũng có khi được bộc lộ một cách gián tiếp qua miêu tả cảnh
49
vật, đồ dùng, nhà cửa. Cảnh buổi sáng khi Chí Phèo tỉnh rượu, cảnh chiều hôm
Kiều ngồi trước lầu Ngưng Bích đều nhuốm màu sắc tâm trạng của những nhân

vật này.
Các chi tiết cũng góp phần khắc họa nhân vật qua miêu tả ngôn ngữ và
hành động của nhân vật. Từ chi tiết "Grandet nói lắp bắp một cách khó nhọc"
và "thường thường ông dùng bốn câu chính xác như bốn công thức đại số để
giải quyết tất cả những khó khăn trong việc mua bán, việc đời: "Tôi không
biết, tôi không thể, tôi không muốn, chúng ta sẽ xem thế nào" cho đến từ
"tây" trong mỗi câu nói của Nghò Quế: "Đồng hồ Tây có bao giờ sai", "Thời
Tây bây giờ thì giờ là vàng là bạc" đều gợi cho người đọc rất nhiều trong
việc hiểu tính cách những nhân vật này. Từ hành động Grandet làm phép tính
lời lãi ngay trên tờ báo đăng tin em chết cho đến hành động "súc miệng òng ọc
rồi nhổ toẹt xuống nền nhà" của Nghò Quế đều là những chi tiết rất đắt trong
việc khắc họa nhân vật.
Nhân vật văn học còn được thể hiện qua những mâu thuẫn, xung đột, sự
kiện. Đặt nhân vật vào mâu thuẫn, xung đột hay sự kiện nào đó, là cơ sở để bộc
lộ phần sâu kín nhất của bản chất nhân vật. Sự kiện Lục Vân Tiên bò mù đã
làm bật ra bộ mặt tráo trở của cha con Võ Thể Loan. Sự kiện Maslova bò bắt, bò
xử án đã thức tỉnh làm "sống lại" Nekhliudov v.v
Trong cuộc đời có biết bao nhiêu sự biến, trong văn chương cũng có bấy
nhiêu sự kiện. Có những sự kiện mang tầm vóc lòch sử như chiến tranh, cách
mạng, có sự kiện liên quan đến cộng đồng như hạn hán, lũ lụt, mất mùa, lại có
những sự kiện liên quan đến mỗi người: chia li, gặp gỡ, yêu đương, thù hận,
chết chóc, sinh nở, đỗ đạt Mỗi sự kiện, mỗi xung đột lại làm lộ ra từng phần
một tính cách các nhân vật. Trong Con đường đau khổ của A. Tolstoi, tính cách
của nhân vật được soi sáng chủ yếu qua những sự kiện trọng đại của lòch sử của
nước Nga: Đại chiến thế giới, cách mạng tháng Mười, những năm nội chiến
trải qua "con đường đau khổ" để tìm một con đường đi đúng nhất. Trong Anna
Karenina thì lại khác, nhân vật được bộc lộ trong những sự kiện có tính chất
đời thường của con người: yêu đương, cưới hỏi, ngoại tình, tự tử
Nhân vật còn có thể được miêu tả qua cái nhìn của nhân vật khác, của
những người xung quanh, qua hoàn cảnh sống Nhân vật cũng có thể được thể

hiện bằng các phương tiện khác của văn học như qua lời văn, kết cấu, loại thể.
Những phương tiện này càng làm phong phú thêm các phương thức khắc họa
nhân vật.
2. Một phương diện khác cần được chú ý là ở những loại hình nhân vật
khác nhau, có những phương thức xây dựng khác nhau phù hợp với đặc điểm
của loại hình nhân vật. Chẳng hạn xây dựng nhân vật chính khác xây dựng
50
nhân vật phụ, nhân vật chính diện khác với nhân vật phản diện, nhân vật chức
năng khác với nhân vật tính cách.
Với nhân vật chính là loại nhân vật chủ chốt trong tác phẩm, do đó có
thể dành nhiều trang cho sự xuất hiện của nhân vật ở những chỗ trọng yếu
nhất. Ngược lại, nhân vật phụ chỉ xuất hiện ít, nhưng phải miêu tả sao cho sự
xuất hiện có ý nghóa mà không lấn át nhân vật chính, còn phải góp phần soi tỏ
nhân vật chính.
Hoặc với nhân vật trữ tình khi miêu tả thường lại phải chú ý tới các
trạng thái cảm xúc, các nỗi niềm. Các nhân vật tự sự lại chú ý nhiều hơn đến
các sự kiện, hành động mà nhân vật tham gia, những suy tư trăn trở mà nhân
vật bộc lộ. Với nhân vật chức năng chú ý các chi tiết tạo nên "chức năng" nhân
vật. Với nhân vật "loại hình" lại phải chú ý chi tiết đặc trưng cho "loại" mà
nhân vật thể hiện.
Các thời đại khác nhau cũng có những cách thức xây dựng nhân vật khác
nhau. Trong văn học dân gian chẳng hạn hầu như nhân vật không được miêu tả
tâm lí. Do vậy nhân vật không biết "nhớ lại", không có "hồi ức". Nhân vật bộc
lộ chủ yếu trong hành động. Ở chủ nghóa hiện thực, tâm lí lại trở thành một nét
chủ đạo trong miêu tả nhân vật. Thậm chí có khi "biện chứng pháp tâm hồn"
còn được xem là nguyên tắc cao nhất trong việc xây dựng nhân vật. Trong văn
học lãng mạn người ta lại chú ý những nét có tính chất lí tưởng hóa nhân vật
v.v
Có thể nói phương tiện xây dựng nhân vật cũng như các biện pháp xây
dựng nhân vật rất phong phú. Sự đa dạng và loại hình nhân vật cũng đòi hỏi có

những phương thức miêu tả phù hợp. Tìm hiểu thế giới phong phú và đa dạng
của nhân vật là cần thiết, bởi lẽ qua đó sẽ hiểu được nội dung nghệ thuật mà
nó khái quát.

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN HỌC TẬP
1. Nhân vật văn học là gì ? Trình bày các cách phân loại nhân vật.
2. Nêu và phân tích các biện pháp xây dựng nhân vật. Lấy dẫn chứng
trong một số tác phẩm để minh họa.
3. V.G. Bielinsky cho rằng một nhân vật xây dựng thành công là "một
người lạ mà quen biết". Hãy giải thích và bình luận ý kiến trên.

(1) Tô Hoài  Sổ tay viết văn  NXB Tác phẩm mới, H. 1977, tr. 127.
(2) Tô Hoài  Sổ tay viết văn  Sđd, tr. 126.
(3) Hoàng Phủ Ngọc Tường  Lẽ công bằng  Văn nghệ số 1  2 ra ngày
9/1/1988, tr. 3.
(4) G.N. Pospelov (chủ biên)  Dẫn luận nghiên cứu văn học, Sđd tập 2, tr. 19.