Báo cáo tổng quan thị trường tài chính 2020

Nhìn lại "bức tranh" thị trường tài chính năm 2020

(Ảnh minh họa)

Nhìn lại năm 2020, có thể nhận diện những động thái nổi bật trên thị trường đầu tư tài chính của Việt Nam đã đạt được trong một năm khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19.

Một năm tăng trưởng ngược dòng ấn tượng

Thị trường trường khoán Việt Nam vượt qua Năm Covid-19 một cách ngoạn mục, với sự hồi phục mạnh mẽ, thanh khoản tăng cao kỷ lục, cùng đó là sự tham gia mạnh mẽ của lớp nhà đầu tư mới, khiến nhà quản lý, giới chuyên gia, các thành viên tham gia thị trường cảm thấy bất ngờ, vượt qua cả kỳ vọng

Tính đến ngày 17-12-2020, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán đạt 383,6 nghìn tỷ đồng, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường cổ phiếu đạt 7.056 tỷ đồng/phiên, tăng 51,5% so với bình quân năm 2019; giá trị giao dịch bình quân trên thị trường trái phiếu đạt 10.247 tỷ đồng/phiên, tăng 11,3%; khối lượng giao dịch bình quân sản phẩm hợp đồng tương lai trên chỉ số VN30 trên thị trường chứng khoán phái sinh đạt 157.314 hợp đồng/phiên, tăng 77%.

Tính đến ngày 30-11-2020, tổng giá trị vốn hóa thị trường chứng khoán đạt hơn 6,11 triệu tỷ đồng - là mức cao nhất từ trước đến nay, chiếm 101,33% GDP, vượt mục tiêu chiếm 70% GDP đề ra trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán tới năm 2020. Với mức phục hồi mạnh mẽ của thị trường chứng khoán và lãi suất duy trì thấp kỷ lục, dòng tiền đã chảy mạnh vào kênh đầu tư chứng khoán. Thị trường ghi nhận quy mô tham gia của nhà đầu tư mới cao chưa từng thấy trong lịch sử.

Tính đến hết tháng 11-2020, tổng số tài khoản mở mới trong năm đạt 332.886 tài khoản; trong đó, nhà đầu tư cá nhân trong nước mở mới 329.452 tài khoản.

Sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư mới cũng đẩy thanh khoản thị trường tăng lên ngưỡng kỷ lục với phiên giao dịch đạt gần 23.562 tỷ đồng trên hai sàn vào ngày 15-6-2020. Giá trị khớp lệnh cũng liên tục đạt hơn 10.000 tỷ đồng/phiên trong tháng 12-2020.

Thị trường phái sinh cũng lập kỷ lục về thanh khoản trong ngày 29-7-2020 với khối lượng giao dịch đạt mức cao nhất 356.033 hợp đồng và khối lượng hợp đồng mở cao nhất đạt 52.767 hợp đồng vào ngày 10-11-2020.

Hợp đồng tương lai VN30 trong năm 2020 có khối lượng giao dịch bình quân đạt hơn 163.000 hợp đồng/phiên, tăng 84,27% so với bình quân năm 2019.

Tính đến hết tháng 11-2020, số tài khoản phái sinh đạt 161.992 tài khoản; trong đó, số lượng mở mới trong năm 2020 là hơn 70.000 tài khoản - mức cao nhất trong vòng 4 năm hoạt động.

Về thị trường trái phiếu, có thể thấy thị trường trái phiếu doanh nghiệp tiếp tục có thêm một năm bùng nổ, đặc biệt là trái phiếu phát hành riêng lẻ. Chỉ tính trong 11 tháng, tổng lượng phát hành thành công trái phiếu doanh nghiệp đã tăng tới gần 25% so với cả năm năm 2019.

Ước tính cả năm 2020, doanh thu phí toàn thị trường bảo hiểm tăng 17% so với năm trước, trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 21%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 7%.

Sự bùng nổ thị trường chứng khoán là kết quả cộng hưởng từ việc giảm lãi suất ngân hàng, tăng cho vay lãi suất thấp và các khó  khăn về cơ hội đầu tư và lợi nhuận trong các lĩnh vực khác, như kinh doanh dịch vụ, bất động sản, vàng và ngoại tệ

Tổng vốn đầu tư xã hội tăng, hiệu suất sử dụng vốn giảm

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2020 tăng 5,7% so với năm 2019, mức thấp nhất trong giai đoạn 2011-2020.

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện theo giá hiện hành năm 2020 đạt 2.164,5 nghìn tỷ đồng và bằng 34,4% GDP (quý 4-2020 đạt 719,6 nghìn tỷ đồng, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước). Trong đó, vốn khu vực Nhà nước đạt 729 nghìn tỷ đồng, chiếm 33,7% tổng vốn và tăng 14,5% so với năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 972,2 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9% và tăng 3,1%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 463,3 nghìn tỷ đồng, bằng 21,4% và giảm 1,3%.

Chỉ số hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (Hệ số ICOR) năm 2020 đạt 14,28; bình quân giai đoạn 2016-2020 hệ số ICOR đạt 7,04.

Dòng FDI vào giảm, dòng FDI ra tăng

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20-12-2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 28,5 tỷ USD, giảm 25% so với năm 2019.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2020 ước tính đạt gần 20 tỷ USD, giảm 2% so với năm trước.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2020 có 119 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới với tổng số vốn đăng ký của phía Việt Nam đạt 318 triệu USD; có 33 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 272 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 590 triệu USD, tăng 16,1% so với năm 2019.

Thu chi NSNN chậm tiến độ, vốn thực hiện đầu tư từ NSNN tăng tốc

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15-12-2020 ước tính đạt 1.307,4 nghìn tỷ đồng, bằng 86,5% dự toán năm.

Tổng chi ngân sách Nhà nước ước đạt 1.432,5 nghìn tỷ đồng, bằng 82% dự toán năm.

Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước năm 2020 đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2011-2020, đây là kết quả đẩy mạnh thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công nhằm duy trì đà tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh dịch Covid-19 được kiểm soát tốt tại Việt Nam.

Bội chi ngân sách tăng lên khoảng 4,99-5,99% GDP. Tính chung cả giai đoạn 2016-2020, bội chi ngân sách khoảng 3,8-3,9% GDP.

Doanh nghiệp phá sản, tạm dừng hoạt động, đăng ký mới và quay lại hoạt động đều tăng

Trong năm 2020, cả nước có 134,9 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập, giảm 2,3% so với năm trước, nhưng vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp đạt 16,6 tỷ đồng, tăng 32,3%.  Ngoài ra, có 3.341,9 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 39,5 nghìn doanh nghiệp đăng ký tăng vốn; có 44,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 11,9% so với năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong năm 2020 lên 179 nghìn doanh nghiệp, tăng 0,8% so với năm trước. Trung bình, mỗi tháng có 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động so với có gần 8,5 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Dự kiến, quý 1-2021 so với quý 4-2020, có 81% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt hoặc ổn định.

Lạm phát, tỷ giá và giá vàng đều tăng

Tính chung quý 4-2020, CPI tăng 0,22% so với quý trước và tăng 1,38% so với quý 4-2019.

Lạm phát cơ bản tháng 12-2020 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân năm 2020 tăng 2,31% so với bình quân năm 2019.

Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Chỉ số giá vàng tháng 12-2020 giảm 0,83% so với tháng trước; tăng 30,95% so với cùng kỳ năm 2019; bình quân năm 2020 tăng 28,05% so với năm 2019.

Chỉ số giá USD tháng 12-2020 giảm 0,23% so với tháng trước và giảm 0,09% so với cùng kỳ năm 2019; bình quân năm 2020 giảm 0,02% so với năm 2019.

Cần nhấn mạnh rằng, lạm phát năm 2020 mang nặng yếu tố lạm phát tiền tệ và lạm phát ngoại nhập (do xu hướng chung là nới lỏng tài chính-tiền tệ, tăng đầu tư công và chi tiêu công, hỗ trợ xã  hội và doanh nghiệp), giảm thiểu sức ép từ lạm phát chi phí đẩy (do giảm thuế và chi phí tài chính-tín dụng) và lạm phát cầu kéo (do tổng cầu xã hội tăng trưởng âm). Năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 5.059,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,6% so với năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 1,2% (năm 2019 tăng 9,5%).

Ngân hàng lãi cao, dư nợ xấu tăng cao, lãi suất giảm mạnh

Năm 2020 là năm vất vả và đầy trách nhiệm của hệ thống ngân hàng trong tạo điều kiện tiếp sức cho doanh nghiệp và cá nhân khôi phục sản xuất kinh doanh trước ảnh hưởng của dịch Covid-19.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã điều chỉnh lãi suất điều hành và mặt bằng lãi suất cho vay VND có xu hướng giảm so với cuối năm 2019. Hiện lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với một số ngành lĩnh vực ở mức 4,5%/năm; lãi suất cho vay USD phổ biến ở mức từ 3 - 6%/năm,

Theo Ngân hàng Nhà nước, đến tháng 11-2020, cho thấy các tổ chức tín dụng đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 272.183 khách hàng với dư nợ 341.855 tỷ đồng. Bên cạnh đó, miễn, giảm, hạ lãi suất cho 552.725 khách hàng với dư nợ 931.018 tỷ đồng. Đồng thời, cho vay mới lãi suất ưu đãi với doanh số lũy kế từ ngày 23-1  đạt 2.017.761 tỷ đồng cho 356.385 khách hàng.

Tính đến thời điểm 21-12-2020, tổng phương tiện thanh toán tăng 12,56% so với cuối năm 2019 (cùng thời điểm năm 2019 tăng 12,1%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 12,87% (cùng thời điểm năm 2019 tăng 12,48%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 10,14% (cùng thời điểm năm 2019 tăng 12,14%).

Bên cạnh đó, một trong những nỗi lo lớn của ngành ngân hàng hiện nay là sự phình to của khối nợ xấu. Dù kết thúc quý 3-2020, nhiều ngân hàng ghi nhận tăng trưởng dương, nhưng các báo cáo về nợ xấu và trích lập dự phòng rủi ro của các ngân hàng năm nay chưa thể hiện đúng thực chất, bởi họ được phép không chuyển nhóm nợ theo Thông tư số 01/2020/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ cho khách hàng chịu ảnh hưởng do dịch Covid-19. Báo cáo mới nhất từ Công ty Cổ phần Chứng khoán An Bình (ABS) cho thấy, tổng nợ xấu nội bảng của 27 ngân hàng được thống kê tại ngày 30-9-2020 là hơn 111.000 tỷ đồng, tăng 29,5% so với đầu năm, trong đó, nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn) tăng mạnh đến 70%.

Đặc biệt, giữa bối cảnh những khó khăn chung do đại dịch Covid-19, việc nhiều ngân hàng nỗ lực để đạt được các trụ cột của Basel II (Hiệp ước Basel phiên bản II) đã thể hiện sự chủ động trong việc ứng phó, nâng cao năng lực kiểm soát rủi ro nợ xấu. Mới đây nhất, Ngân hàng TMCP Bản Việt (Viet Capital Bank) vừa trở thành một trong những ngân hàng đầu tiên hoàn thành sớm cả 3 trụ cột của Basel II trước hạn. Trước đó, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Đông-Nam Á (SeABank), Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB), Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank), Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) và Ngân hàng TMCP Hàng hải Việt Nam (MSB) cũng đã công bố hoàn thành cả 3 trụ cột này.

Đến nay, hầu hết các tổ chức tín dụng đã áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41/2016/TT-NHNN quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, trong đó 18 tổ chức tín dụng đã được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận áp dụng trước thời hạn tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư số 41, có 7 ngân hàng hoàn thành cả 3 trụ cột của Basel II.

Trong khi các ngân hàng còn lại cũng đang tích cực nâng cao quy mô vốn và cải thiện bảng tài sản để áp dụng tỷ lệ an toàn vốn theo Thông tư 41 và hoàn thành cả 3 trụ cột Basel II. Việc áp dụng các chuẩn mực và thông lệ quản lý rủi ro quốc tế như Basel là yêu cầu tiên quyết để các ngân hàng nâng cao năng lực quản lý rủi ro cũng của mình.

Bên cạnh đó, cơ hội tăng vốn điều lệ, nâng cao năng lực tài chính phục vụ tăng trưởng lại mở ra với các ngân hàng quốc doanh trong năm 2020.

Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank) đã được Quốc hội cho phép tăng vốn điều lệ bằng nguồn tiền ngân sách, khoản tiền này bằng với lãi sau thuế nhà băng này nộp ngân sách năm 2020, tối đa 3.500 tỷ đồng. Còn với Vietcombank, BIDV và Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), phương án tăng vốn thông qua chia cổ tức bằng cổ phiếu cũng rộng mở khi Chính phủ ban hành Nghị định số 121/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 12 Nghị định 91/2015/NĐ-CP, mở rộng phạm vi đầu tư bổ sung vốn Nhà nước tại công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Việc tăng vốn cho các ngân hàng quốc doanh là việc khẩn thiết hơn bao giờ hết khi các ngân hàng này đang căng sức hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế vượt qua khó khăn do đại dịch Covid-19. Nếu không tăng vốn kịp thời, khối ngân hàng này sẽ bị bỏ xa so với khối ngân hàng cổ phần. Hiện tại, BIDV là ngân hàng có vốn điều lệ cao nhất hệ thống với 40.220 tỷ đồng. Theo sau lần lượt là VietinBank (37.234 tỷ đồng), Vietcombank (37.088 tỷ đồng), Agribank (30.641 tỷ đồng).

Cùng với kết quả dịch bệnh được kiểm soát, ngành ngân hàng được kỳ vọng sẽ có sự phục hồi khả quan vào nửa cuối năm 2021.                             TS NGUYỄN MINH PHONG